Hiển thị các bài đăng có nhãn benh viem mui di ung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn benh viem mui di ung. Hiển thị tất cả bài đăng

Nguyên nhân viêm mũi dị ứng và phân loại


1. Nguyên nhân
1.1 Cơ địa nhạy cảm
Gia đình có bố mẹ bị dị ứng hoặc trong phả hệ có người bị dị ứng. Theo điều tra cho thấy nếu mẹ có bệnh dị ứng thì tỉ lệ mắc bệnh này ở con cái của họ tới 65%. Do đó có thể thấy yếu tố di truyền có quan hệ mật thiết với phát sinh viêm mũi dị ứng.
1.2 Do tiếp xúc với dị nguyên
Dị nguyên là nguyên nhân gây dị ứng. Bao gồm 2 nhóm lớn:
+ Dị nguyên ngoại sinh:Phấn hoa, lông động vật, bụi nhà, nấm , mốc, protein thức ăn
+ Dị nguyên nội sinh: Hình thành ngay trong cơ thể, có thể xuất hiện sau 1 đợt nhiễm khuẩn.
1.3 Yếu tố nhiễm trùng
Có thể dị ứng với độc tố của vi khuẩn ở những ổ viêm mạn tính, nhiễm khuẩn ở mũi họng, miệng, sâu răng, viêm lợi…
1.4 Yếu tố môi trường khí hậu
Những thay đổi thời tiết đột ngột, môi trường ô nhiễm kích thích niêm mạc mũi tạo điều kiện cho viêm mũi dị ứng xuất hiện.
1.5 Yếu tố dị hình về cấu trúc giải phẫu
Vẹo vách ngăn mũi, gai vách ngăn kích thích làm bệnh phát sinh
2. Phân loại
2.1 Theo cách phân loại cổ điển
2.1.1 Viêm mũi dị ứng mùa
Thường mắc bệnh vào mùa xuân và hè với thời gian khác nhau, gần như thành quy luật các triệu chứng xuất hiện vào cùng thời điểm trong các năm tiếp theo. Các dị nguyên thường là phấn hoa, cây cỏ hoặc nấm xuất hiện theo mùa thâm nhập qua đường hô hấp.
Triệu chứng:
Thường bắt đầu bằng giai đoạn khởi phát từ 5-15 ngày,với các triệu chứng ngứa ở khoang mũi, sống mũi, cảm thấy khô ở niêm mạc họng, thanh quản, khóe mắt, thỉnh thoảng ở ống tai ngoài. Sau giai đoạn khởi phát xuất hiện hiện tượng hắt hơi từng tràng, khó thở vì cuốn mũi sưng nề và chảy nước mắt, mắt tấy đỏ. Nhạy cảm với ánh sáng, 30% số bệnh nhân bị viêm phế quản, sức khỏe chung bị ảnh hường nhẹ, thỉnh thoảng bị ớn lạnh nhưng không bị sốt. Bệnh trở nên trầm trọng khi thanh quản bị phù nề, ít khi bị sốc phản vệ. Ngoài cơn các triệu chứng hết hoàn toàn. Không cần dùng thuốc cũng tự khỏi.

2.1.2 Viêm mũi dị ứng quanh năm
Đa số dị nguyên trong không khí, một số thâm nhập qua đường tiêu hóa ( bắt nguồn từ thực phẩm và lương thực đặc biệt là nấm, thuốc tân dược).
Triệu chứng:
Tương tự như viêm mũi dị ứng mùa nhưng hắt hơi và sổ mũi ít hơn nhưng lại ngạt mũi thường xuyên, niêm mạc mũi dần dần biến đổi từ màu hồng thành tái nhợt và phù nề, cuối cùng thành polyp.

2.2 Theo phân loại ARIA ( hiệp hội viêm mũi dị ứng QT)
2.2.1 VMDƯ dai dẳng được xác định bởi:
- Ảnh hưởng trên triệu chứng
- Ảnh hưởng trên chất lượng cuộc sống
- Ảnh hưởng trên năng xuất lao động
- Ảnh hưởng trên các bệnh đi kèm

2.2.2 VMDƯ gián đoạn xác định bởi:
- VMDƯ gián đoạn có thời gian mắc bệnh ≤ 4 ngày/ tuần hay ≤ 4 tuần
- VMDƯ dai dẳng có thời gian mắc bệnh > 4 ngày/ tuần và > 4 tuần
Giai đoạn nhẹ: giấc ngủ bình thường không ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày như thể thao, giải trí, làm việc mà không có các triệu chứng khó chịu.
Giai đoạn trung bình và nặng: giấc ngủ không bình thường, ảnh hưởng tới các hoạt động thường ngày, xuất hiện các triệu chứng khó chịu.
Liên quan giữa bệnh VMDƯ với đường hô hấp.
Bệnh VMDƯ thường gây nên nhiễm khuẩn đường hô hấp như viêm phế quản, viêm mũi, viêm xoang, viêm tai giữa, đặc biệt là hen. Các bệnh này làm nặng thêm các triệu chứng của VMDƯ, điều này giải thích ý nghĩa của thuốc kháng sinh trong các đơn thuốc.

Phòng bênh VMDƯ


Phòng bệnh
Là một bệnh di truyền miễn dịch nên phòng bệnh mang tính chất nâng cao sức khỏe cải thiện chất lượng sống hơn là phòng bệnh.
Nếu gia đình bạn có người mắc căn bệnh này thì bạn là người có nguy cơ cao.
Cần phải xác định bạn dị ứng với loại dị nguyên nào:
- Nếu bạn dị ứng thời tiết thì hầu như bạn chỉ có cách thay đổi nơi ở hoặc đề phòng nhiễm khuẩn đường hô hấp.
- Nếu dị ứng với phấn hoa, lông thú, bọ nhà thì tránh xa chúng là cách duy nhất.
- Một biện pháp cơ học để loại bỏ dị nguyên là rửa mũi hằng ngày bằng dung dich nước muối sinh lý 0,9%, loại dung dịch này có bán ở các nhà thuốc.
- Không dùng tay ngoáy mũi để tránh làm tổn thương niêm mạc mũi
- Tránh ăn uống đồ lạnh, thức ăn tanh. Rượu, thuốc lá là những thứ bạn phải từ bỏ nếu bạn muốn hít thở bình thường với cái mũi của mình.
- Cần chú ý điều trị triệt để các ở mũi xoang và vùng răng miệng.
- Cần đến các cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời khi bạn nghi ngờ mình có các triệu chứng của VMDƯ
Cần nhớ 3 triệu chứng cơ bản của VMDƯ: Ngứa mũi, hắt hơi, chảy mũi trong kéo dài hoặc lặp đi lặp lại có tính chất chu kì.

Điều trị VMDƯ



Điều trị
Mục đích điều trị là thanh toán nguồn gây bệnh dị ứng mà ta xác định được. Nếu không đạt được toàn bộ hoặc một phần của mục đích này thì có thể dùng một biện pháp miễn dịch.
Chiến lược điều trị viêm mũi dị ứng:
Giảm được:
- Hiện tượng viêm
- Triệu chứng dị ứng
Cần điều trị liên tục: Mục đích làm giảm hiện tượng viêm và kiểm soát triệu chứng dị ứng. Các yếu tố môi trường và xã hội cần được quan tâm để lập một cuộc sống bình thường.
Các loại thuốc thường được sử dụng:
- Thuốc kháng histamin
- Thuốc co mạch phun vào mũi
- Steroid phun trong mũi
Giải quyết tác nhân gây bệnh:
Bằng cách thay đổi môi trường sống, làm việc hoặc đổi nghề, thay đổi chế độ ăn, loại bỏ các thực phẩm gây bệnh dị ứng.
Tránh tiếp xúc với dị nguyên: loại trừ nguồn gây bệnh mà ta xác định được ( tránh tiếp xúc với dị nguyên). Tuy nhiên biện pháp này coi như khó thực hiện vì không dễ dàng chuyển đổi công việc mà bạn đang theo đuổi cũng như nơi ở.

Chẩn đoán VMDƯ



    Chẩn đoán
Chẩn đoán xác định phải được chẩn bởi bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng. Ở đây chúng tôi giới thiệu sơ lược về các tiêu chuẩn chẩn đoán để các bạn có thể hình dung được quy trình chẩn đoán.
Lâm sàng: có 3 triệu chứng ngạt mũi, hắt hơi và chảy mũi.
Niêm mạc nhợt nhạt, cuốn mũi phù nề, có ánh tím.
Có người nhà bị dị ứng - bố hoặc mẹ.
Xét nghiệm:
-         Các xét nghiệm da bì: thử 1 hay nhiều dị nguyên vào da, dương tính khi có hiện tượng tản hạt của dưỡng bào phụ thuộc vào IgE trong da với hiện tượng hồng ban, nổi mày đay.
-         Test lẩy da: tương tự cách trên, dị nguyên được đưa qua da sau đó đánh giá độ sẩn phù và phản ứng viêm tại chỗ.
-         Test rạch da
-         Test trong da
-         Các phương pháp xét nghiệm định lượng kháng thể dị ứng

Bệnh học VMDƯ




 Bệnh học
Những nghiên cứu gần đây của nhiều tác giả đã khẳng định: VMDƯ là bệnh của di truyền miễn dịch.
Đó là sự mất cân bằng điều hòa tổng hợp IgE dẫn tới khả năng tạo kháng thể IgE tăng cao.
Khi tiếp xúc với dị nguyên có trong môi trường, cơ thể người bệnh sẽ tạo ra IgE. Số lượng IgE này sẽ gắn kết với dưỡng bào và các tế bào ái kiềm ở niêm mạc mũi. Khi tiếp xúc lần thứ 2, lượng IgE này sẽ gắn kết với dị nguyên. Sự gắn kết này sẽ dẫn đến hậu quả là giải phóng các chất hóa học trung gian vào niêm mạc mũi.
Những chất trung gian hóa học này (histamin, leucotrien, prostaglandin, acidhydrolaxes) gây giãn mạch, sung huyết, tăng tính thấm thành mạch làm sưng, phù nề niêm mạc mũi.
- Những chất hóa học trung gian kích thích thần kinh ở mũi, kích thích tế bào sinh nhầy. Đây là nguyên nhân của chảy nước mũi trong.
- Thu hút các tế bào gây viêm đến niêm mạc mũi: Bạch cầu trung tính, đại thực bào, bạch cầu ái toan, tiểu cầu, từ đó gây ra các phản ứng viêm tiếp diễn. Tất cả các phản ứng trên tạo thành bệnh cảnh lâm sàng của VMDƯ điển hình như ngứa mũi, hắt hơi, chảy nước mũi, sung huyết đỏ, ngạt mũi.

Triệu chứng VMDƯ


  Triệu chứng
VMDƯ khởi bệnh đột ngột, bệnh nhân ngứa ở mũi, cổ, mắt, da ống tai ngoài. Tiếp theo là ngạy mũi và chảy dịch trong. Ở trẻ em có khi không hắt hơi mà chỉ ngạt mũi và chảy nước mũi trong . thường kèm theo các triệu chứng về tiêu hóa như trướng bụng, tiêu chảy. Ở người cao tuổi có thể chỉ có chảy nước mũi trong. Cơn dị ứng đến đột ngột và hết rất nhanh.
- Toàn thân: Không có triệu chứng gì đặc biệt
- Cơ năng: ngạt mũi, hắt hơi và chảy nước mũi trong là 3 triệu chứng thường gặp nhất
- Thực thể: Khám hốc mũi thấy niêm mạc nhợt nhạt, cuốn mũi phù nề, có các đám nhỏ màu tím.

VIÊM MŨI DỊ ỨNG

Bệnh dị ứng là bệnh có tính toàn cầu.
Bệnh viêm mũi dị ứng ngày nay đã trở thành bệnh thường gặp và có xu hướng ngày càng tăng cao trên toàn cầu. Được xếp vào nhóm bệnh nguy hiểm đứng thứ 3 sau tim mạch và ung thư. Tại Mỹ tỉ lệ mắc bệnh là 15-20% dân số, ở Pháp là 20%, Đức và Nga có 20-30% dân số mắc các bệnh đường hô hấp. Theo Lê Văn Tri tỉ lệ này ở Việt Nam là 6-15%. Với 88 triệu dân chúng ta có khoàng 10 triệu người mắc bệnh viêm mũi dị ứng.

Tuy nhiên để chẩn đoán và điều trị bệnh viêm mũi dị ứng còn gặp nhiều khó khăn vì viêm mũi xoang dị ứng thường kèm theo bội nhiễm do đó việc chẩn đoán phân biệt giữa viêm mũi xoang dị ứng và viêm mũi xoang do vận mạch cũng gặp nhiều khó khăn.
Viêm mũi dị ứng cũng như các bệnh dị ứng khác, đều là những bệnh miễn dịch.